Thứ Năm, 30 tháng 7, 2009

NỀN VĂN HÓA ĐÔNG SƠN

Văn hóa Đông Sơn - 85 Năm phát hiện và nghiên cứu

Nguyễn Quốc Bình (9/5/2009) (Doremon360 bổ sung thêm tư liệu và hình ảnh)

Văn hoá Đông Sơn được đặt tên theo di tích khảo cổ Đông Sơn tìm được năm 1924 ở xã Đông Sơn thuộc vùng sông Mã, tỉnh Thanh Hoá, Việt Nam.

Những cuộc khai quật Đông Sơn đầu tiên được tiến hành từ năm 1924 đến năm 1932 dưới sự điều khiển của L. Pajot, một viên chức thuế quan và cũng là người sưu tầm cổ vật ở Thanh Hoá. Trong bản báo cáo năm 1929 về các chuyến khai quật kể trên, ông V. Goloubew, một học giả Pháp thuộc trường Viễn Đông Bác cổ, đã mệnh danh đó là: "Thời đại đồng thau ở Bắc Kỳ và Bắc Trung Kỳ" để ám chỉ nền văn hoá khảo cổ mới được khám phá này. Thuật ngữ “Văn hóa Đông Sơn” được nhà khảo cổ học người Áo R. Heine - Geldern đề xuất lần đầu tiên năm 1934.

Đèn đồng Đông Sơn.

Công cuộc nghiên cứu khảo cổ học Việt Nam từ năm 1954 đến nay đã xác định được rõ ràng Văn hoá Đông Sơn là nền văn hoá thuộc sơ kỳ thời đại đồ sắt, tồn tại khoảng gần một thiên niên kỷ, từ thế kỷ VIII trước Công Nguyên đến thế kỷ thứ I sau Công Nguyên. Tuy nhiên ở nhiều nơi thuộc khu vực nền văn hoá này còn có thể kéo dài tới thế kỷ II - III sau Công Nguyên.

Văn hoá Đông Sơn ra đời là kết quả của sự hội tụ của nhiều văn hoá rực rỡ trước văn hoá Đông Sơn thuộc thời đại đồng thau trong quá trình chiếm lĩnh vùng đồng bằng các con sông lớn ở miền Bắc Việt Nam, chủ yếu là lưu vực sông Hồng. Phạm vi phân bố của nền văn hoá Đông Sơn trên cơ bản là trong phạm vi ở miền bắc Việt Nam. Sự ra đời của kỹ thuật đồ sắt của thời kỳ này đã giúp cho kỹ thuật luyện đồng thau được hoàn thiện, đồ đồng thau Đông Sơn phát triển rực rỡ.

Trống đồng Đông Sơn ghi dấu khắp nơi tại Đông Nam Á.

Có khoảng 500 di tích đã được biết đến của văn hoá Đông Sơn hiện tồn tại ở Việt Nam, từ biên giới của Việt Nam với Trung Quốc về phía Bắc; với Lào ở phía Tây; và tỉnh Quảng Bình ở phía Nam. Trong đó bao gồm đủ các di tích khảo cổ tiêu biểu như các di chỉ cư trú; di tích mộ táng; di chỉ - di tích cư trú - mộ táng; di tích xưởng, di chỉ - di tích cư trú - xưởng; và nhiều nhất là các di tích tìm thấy hiện vật lẻ tẻ. Tỉnh phát hiện được nhiều di tích nhất là Thanh Hoá, với 80 địa điểm. Vùng đồng bằng sông Hồng có gần 130 di tích, trong đó một phần ba ở tỉnh Hà Tây. Ba tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình vùng sông Cả, địa phận cực nam của văn hoá Đông Sơn, có tới 54 di tích.

Các cuộc nghiên cứu khảo cổ ở Việt Nam từ năm 1954 đến nay đã xác định được là nền văn hoá Đông Sơn với chủ nhân là Âu Lạc cổ đã tồn tại được gần một thiên niên kỷ, từ cuối thời đại đồng thau sang thời đại đồ sắt. Bước chuyển sớm nhất từ văn hoá Quỳ Chử, nền văn hoá trước Đông Sơn trên thực tế đã diễn ra ở đồng bằng sông Hồng. Kết quả các xét nghiệm C.14 trên các mẫu tro than lấy từ tầng địa chất Đông Sơn sâu nhất ở các khu Đồi Đà và Chùa Thông, tiêu biểu của vùng sông Hồng là 2704 90 (ZK 305) và 2655 90 (ZK 309).

Như vậy người ta có thể xác định được văn hoá Đông Sơn ở vùng này bắt đầu từ khoảng thế kỷ VIII - VII trước Công Nguyên. Ở vài nơi trong vùng, các chuyên viên khảo cổ đã khai quật được những nông cụ bằng sắt và dấu tích của sự luyện sắt trong tầng lớp văn hóa Đông Sơn sớm. Ở vùng sông Mã giai đoạn chuyển tiếp từ Quỳ Chử sang Đông Sơn có phần muộn hơn, vào khoảng thế kỷ VII - VI trước Công Nguyên.

Lưỡi cày đồng.

Văn hoá Đông Sơn phân bố rộng nhưng vẫn mang tính thống nhất rất đậm nét. Trải qua 85 năm nghiên cứu, ngày nay chúng ta hiểu rằng đó là sự thống nhất giữa người Lạc và người Âu trong khối Việt cổ ở Đông Nam Á cổ đại. Môi trường và cảnh quan sinh thái của những vùng phân bố di tích Đông Sơn rất thuận lợi cho cuộc sống của con người khiến cho nhiều di tích văn hoá Đông Sơn được con người sử dụng kế thừa liên tục trong suốt 2000 năm (môi trường tối ưu đối với những người thuộc nền văn minh trồng lúa nước).

Sự thống nhất được thể hiện rõ nhất là sưu tập đồ đồng Đông Sơn. Một biểu tượng nổi bật của nền văn hoá Đông Sơn là trống đồng với kỹ thuật chế tạo vô cùng tinh xảo. Văn hoá Đông Sơn đã sản sinh trống Đông Sơn, nhưng không phải chỉ có người Đông Sơn mới dùng và đúc trống Đông Sơn, cho nên ngoài trống Đông Sơn ra tính thống nhất được thể hiện rõ nét hơn đó là những chiếc rìu lưỡi xéo hình bàn chân hay hình dao xén của thợ giầy, những chiếc dao găm đốc hình thuẫn, hình củ hành.

Trồng đồng Sông Đà.

Rìu đồng lưỡi hài, gót vuông.

Đặc biệt là những chiếc dao găm có cán được đúc thành khối tượng người đứng với hai tay chống nạnh, những đồ đựng bằng đồng như: những chiếc thạp, thố có hoa văn trang trí như hoa văn trang trí trên trống đồng.

Dao găm đồng Đông Sơn.

Thạp đồng Đào Xá.

Các đồ đồng khác thuộc vào các bộ hiện vật của công cụ sản xuất, vũ khí, đồ dùng sinh hoạt, nhạc khí, đồ trang sức nghệ thuật cũng rất dễ nhận biết tính Đông Sơn của nó thông qua những biểu hiện bên ngoài như hình dáng, và hoa văn trang trí.

Vật dụng bằng đồng.

Rìu đồng Đông Sơn.

Một số loại kiếm đồng Đông Sơn

Giáp chân giáp tay bằng đồng.

Giáp ngực bằng đồng.

Lãy nỏ và kiếm đồng.

Lãy nỏ bằng đồng.

Với kỹ thuật luyện kim độc đáo của người Đông Sơn, lớp bụi thời gian phủ trùm lên các hiện vật này đã tạo nên lớp áo gỉ đồng mang màu sắc đặc biệt khiến chúng không thể nào lẫn với các hiện vật được chế tạo ở các trung tâm đúc đồng khác.

Tính thống nhất của văn hoá Đông Sơn là một sự thống nhất trong đa dạng. Bên cạnh sự thống nhất cao, trên phạm vi rộng, sự khác biệt chỉ mang tính địa phương, khu vực. Có thể phân chia văn hoá Đông Sơn thành các loại hình địa phương trong một sự thống nhất chung như:

Loại hình văn hoá Đường Cồ, hay loại hình văn hoá Sông Hồng.

Loại hình văn hoá Đông Sơn hay loại hình văn hoá Sông Mã.

Loại hình văn hoá Làng Vạc hay loại hình văn hoá Sông Cả.

Sự khác biệt địa phương có nguyên nhân sâu xa từ những nguồn gốc khác nhau của văn hoá Đông Sơn, trong quá trình ra đời trên cơ sở những nền văn hoá tiền Đông Sơn ở lưu vực các con sông lớn trong khu vực. Tính đa dạng đồng thời cũng là kết quả ứng xử của người Đông Sơn với các môi trường, vùng vi sinh thái khác nhau.

Sự đa dạng của đồ đồng Đông Sơn đã phản ánh sự khác biệt địa phương của văn hoá Đông Sơn. Tuy cùng một loại hình hiện vật nhưng các vùng khác nhau hình dáng của chúng cũng rất khác nhau.

Có thể kể ra đây một vài trường hợp để làm ví dụ:

Những chiếc rìu lưỡi xéo ở vùng sông Hồng có hình bàn chân hay chiếc ủng, nhưng những chiếc rìu lưỡi xéo ở vùng sông Mã lại có hình dao xén của thợ giầy.

Cùng là loại giáo có họng tra cán nhưng giáo của vùng sông Hồng thường có phần họng ngắn hơn phần lưỡi, mặt cắt ngang của lưỡi là một hình thoi biến dạng. Trong khi đó, giáo của vùng sông Mã lại có mặt cắt ngang là hình thoi cân đối, nhiều chiếc còn có thêm những lỗ thủng. Loại giáo hình lá mía có chuôi tra cán có thể nói rằng đó là sản phẩm riêng của vùng sông Mã.

Một số loại giáo đồng Đông Sơn.

Những hiện vật được tạm gọi là lưỡi cày ở vùng sông Hồng có hình lá trầu hay hình tim, kích thước lớn, nhưng ở vùng sông Mã lại có hình chân vịt, vùng sông Cả có hình tam giác.

Những nông cụ làm đất khác cũng mang đặc trưng vùng miền rất rõ nét như loại thuổng, xẻng của loại hình sông Hồng to khoẻ; của loại hình sông Cả thì nhỏ và mảnh hơn.

Sự khác biệt về tỉ lệ của những hiện vật cùng loại ở các vùng cũng là những biểu hiện góp phần làm nên đặc trưng cho từng loại hình. Kết quả của những cuộc khai quật mộ táng cho thấy cư dân ở lưu vực sông Cả thích dùng dao găm hơn ở vùng sông Mã và sông Hồng.

Giai đoạn cuối của văn hoá Đông Sơn được đánh dấu bằng sự xuất hiện ngày càng nhiều của các hiện vật và yếu tố ngoại lai, thí dụ như đồ minh khí tùy táng bằng đồng thau thay vì chỉ bằng gốm, gỗ trước đó, trong khi đồ đồng bản địa khác biến mất dần trong các mộ táng địa phương. Hiện tượng này tăng lên cùng chiều với sự bành trướng của người Hán xuống phía Nam. Ở các địa bàn văn hoá sông Hồng và sông Mã điều này xảy ra vào khoảng thế kỷ I sau Công Nguyên. Nhưng sâu hơn về phía Nam, ở lưu vực sông Cả, văn hoá Đông Sơn còn kéo dài đến các thế kỷ II - III.

Có thể nói là những người thợ kim khí Đông Sơn đã hoàn toàn làm chủ được kỹ thuật của họ trong tất cả các lĩnh vực của quá trình đúc đồng. Thành phần chính của đồng thau Đông Sơn là đồng, chì, thiếc. Hợp kim của đồng với tỉ lệ chì cao đã trở thành nét độc đáo của cổ đồng Đông Sơn. Kỹ thuật luyện kim và hợp chất đồng đặc biệt này đã được sử dụng một cách đồng nhất trong toàn địa bàn phân bố của văn hoá Đông Sơn, từ vùng đất cao Âu Việt cho đến vùng đồng bằng Lạc Việt của cư dân Âu Lạc thời cổ. Chỉ thỉnh thoảng lắm mới có biệt lệ, thí dụ như chiếc trống đồng Thượng Nông và các nông cụ bằng đồng tìm được ở Cổ Loa gần Hà Nội.

Dựa theo chủng loại và chức năng, các loại đồ đồng thau sử dụng trong khu vực văn hoá Đông Sơn được phân thành 7 nhóm sau đây:

1- Vũ khí: Lưỡi giáo, mũi tên, dao găm, đoản kiếm, rìu chiến, qua, giáp che ngực, vật dụng đeo binh khí, cung và nỏ.

2- Dụng cụ sản xuất: Rìu, cuốc, thuổng, lưỡi cầy, lưỡi liềm, dùi, đục, dũa.

3- Dụng cụ sinh hoạt: Thạp, thố, bình, âu, khay, đĩa, chậu, lọ, ấm, muôi, đèn dầu, cốc trầm.

4- Nhạc cụ: Chuông, lục lạc, trống. Ngoài ra còn có các nhạc cụ như khèn, chiêng, cồng chỉ tìm thấy trong phần trang trí trên các trống, thạp, hoặc các hình tượng nhỏ.

5- Đồ trang sức: Vòng tay, vòng chân, vòng tai, khóa thắt lưng.

6- Hình tượng nhỏ: Thường là các tượng người hay thú đúc nhỏ để gắn trên các hiện vật khác, dùng để trang trí, vừa có công dụng cầm tay hoặc làm móc chặn.

7- Hiện vật minh khí: Đồ thu nhỏ dùng để tùy táng, với hầu hết các vật dụng bằng đồng thau điển hình dùng trong sinh hoạt hàng ngày. Kỹ thuật đúc các đồ đồng này thường sơ sài, mỏng manh.

Chuông đồng có hình voi.

Chuông đồng Đông Sơn.

Một số loại chuông đồng Đông Sơn.

Lọ đồng.

Nhẫn đồng có hình trâu.

Một số loại vòng, kiềng trang sức bằng đồng.

Khóa thắt lưng bằng đồng trang trí hình rùa.

Vật dụng cùng chủng loại ở mỗi địa phương có khác nhau về hình dáng và hoa văn trang trí. Hình dạng của chúng được biến cải cho thích hợp với môi trường thiên nhiên sinh thái của từng vùng. Có ba loại hình dạng và hoa văn trang trí chủ yếu, được tập chung vào ba con sông chính trong phạm vi tồn tại của văn hóa Đông Sơn.

1- Loại hình Đường Cồ, sông Hồng.

2- Loại hình Đông Sơn, sông Mã.

3- Loại hình làng Vạc, sông Cả.

Mối giao lưu trao đổi của văn hóa Đông Sơn với các nền văn hóa láng giềng một mặt góp phần làm tăng thêm những sắc thái địa phương của các loại hình trong quá trình phát triển và hội tụ của nền văn hóa, nhưng mặt khác cũng khẳng định tính cởi mở của người Đông Sơn về sự hòa nhập với các nền văn hóa lân cận.

Phong cách họng lõm ở một số giáo, ở những chiếc rìu chiến, thuổng – mai, kiểu dao găm lưỡi lượn gấp khúc, kiểu dao găm có cán là các khối tượng động vật, khóa thắt lưng, các tượng tròn, tượng bẹt là kết quả học tập của văn hóa Đông Sơn từ các nền văn hóa của các cư dân chuyên chăn nuôi của văn hóa Điền. Những âu có chân, chậu đồng, bình đồng là những hiện vật mà người Đông Sơn đã học từ người Hán nhưng đã biết khéo léo kết hợp những trang trí ưa thích của mình như những đường văn thừng nổi, người trang sức lông chim cách điệu, ngôi sao – mặt trời ở trung tâm các đồ vật. Đồ đồng của nền văn hóa Điền, Hán đã làm phong phú thêm chủng loại hiện vật của văn hóa Đông Sơn. Các khóa thắt lưng do người Đông Sơn chế tạo được gắn thêm các lục lạc trang trí. Những con thú dữ như voi, cọp trên cán dao găm hoặc vòng trang sức của người Điền đã được biến cải thành hiền hòa, dễ mến trong đồ đồng Đông Sơn.

Trong khi văn hóa Đông Sơn tiếp thu những ảnh hưởng từ bên ngoài thì ngược lại, ảnh hưởng của nó cũng lan tỏa đến các vùng văn hóa khác.

Ra ngoài địa phận Việt Nam, ảnh hưởng của văn hóa Đông Sơn cũng đã được nhận ra, trải từ miền Nam Trung Quốc đến các hải đảo phía dưới Đông Nam Á.

Trống đồng Đông Sơn tại Selayar, Indonesia.

Ở các tỉnh miền Nam và duyên hải Nam Trung Hoa, số lượng trống đồng cổ có hoa văn trang trí hình người đội lông chim cách điệu, hình thuyền đi biển, chim lạc và những trang trí hình học đặc biệt của văn hóa Đông Sơn được phát hiện không ít.

Các đồ đồng thau với hình dạng đặc trưng của loại hình sông Hồng như rìu hình bàn chân có hoa văn trang trí hình người hóa trang, rìu gót vuông có trang trí ở họng, dao găm có cán là khối tượng người, rìu hình lưỡi câu có hoa văn hình học, đã được tìm thấy trong khắp vùng hạ lưu sông Dương Tử.

Lao có chuôi tra cán hình ngòi bút, lưỡi cuốc đồng hình chữ U đặc biệt của loại hình sông Hồng đã được sử dụng rộng rãi lan đến tận vùng Bắc sông Trường Giang (sông Dương Tử). Các loại rìu chiến lưỡi xéo, hay gót vuông họng lõm, lưỡi giáo tam giác có lỗ để treo các khối tượng người nhỏ, loại lưỡi cày hình tim đã được dùng rộng rãi trong văn hóa Điền ở Vân Nam. Những đồ đựng ốc tiền bằng đồng thau của vùng văn hóa Điền có xuất xứ từ miền duyên hải Việt Nam.

Trong địa bàn văn hóa Sa Huỳnh phía Nam, lưỡi giáo và rìu Đông Sơn được tìm ra ở các vùng Tam Kỳ, Điện Bàn. Trống đồng Đông Sơn tuy chưa được tìm ra trong các di tích khảo cổ Sa Huỳnh, nhưng chúng đã có mặt ở nhiều nơi trong địa bàn thuộc văn hóa này.

Đặc biệt những năm gần đây ở vùng Tây Nguyên phát hiện được một số lượng lớn các trống loại I Hêgơ, chứng minh sức lan tỏa mạnh mẽ của văn hóa Đông Sơn, cũng như tính thống nhất trong đa dạng của văn hóa này.

Trống đồng Đông Sơn ở Tây Nguyên.

Dù ở trong hay ngoài phạm vi phân bố văn hóa Đông Sơn, đồ đồng Đông Sơn vẫn dễ nhận ra được với màu sắc rỉ đồng, hình dáng, và các hoa văn trang trí đặc biệt. Đấy là các dấu ấn khó lầm lẫn được của nền văn hóa Đông Sơn độc đáo. Vậy nên có thể nhận xét rằng đồ đồng Đông Sơn, thời đại vàng của Nghệ thuật Việt Nam. Văn hóa Đông Sơn thống nhất đã hình thành nên bản sắc văn hóa thống nhất. Trong cả một thiên niên kỷ mà văn hóa Đông Sơn tồn tại, trên khắp lục địa Á - Âu, những sự thăng trầm đầy kịch tính của các nền văn hóa khảo cổ cũng đồng thời là một thực tế lịch sử. Sự tồn tại sống động và phát triển rực rỡ của nền văn hóa Đông Sơn đã làm nên bản lĩnh Đông Sơn.

Nguyễn Quốc Bình.
Posted by Doremon360 0 comments Links to this post
Labels: bronze drum, cội nguồn, dân tộc, lãy nỏ, lịch sử, sông đà, vietnam, việt nam, văn hóa, đông sơn
Reactions:
Bai 22: Áo dài Việt Nam qua các thời kỳ

Áo dài Việt Nam qua các thời kỳ
.
(Doremon360 tổng hợp từ bài viết của tác giả Thùy Mai và Dung Nguyen design, bổ sung thêm tư liệu và hình ảnh sưu tầm)

Khi nói đến khía cạnh thẩm mỹ, văn hóa và trang phục truyền thống của người Việt Nam, người ta thường nghĩ ngay đến tà áo dài và chiếc nón lá, thật vậy, trải qua từng thời kỳ, từng giai đoạn cùng với những diễn biến của quá trình phát triển lịch sử, tà áo dài Việt Nam tồn tại cùng với thời gian, được xem là trang phục truyền thống mang tính lịch sử lâu đời của người Việt.

.

Áo dài Việt Nam - những chặng đường lịch sử.

Ngược dòng thời gian tìm về cội nguồn, hình ảnh chiếc áo dài Việt với hai tà áo thướt tha trong gió đã được tìm thấy qua các hình khắc trên mặt trống đồng và hiện vật Đông Sơn cách ngày nay hằng nghìn năm (2879.BC-258.BC):
Trang phục Việt cổ thể hiện trên kiếm đồng Đông Sơn.
.

Truyền thuyết kể lại rằng khi cưỡi voi xông trận, Hai Bà Trưng (40-43.AD) đã mặc áo dài hai tà giáp vàng, che lọng vàng. Do tôn kính hai bà, phụ nữ Việt xưa tránh mặc áo hai tà mà thay bằng áo tứ thân.

Theo thời gian, trong khoảng từ thế kỷ 17 đến thế kỷ 19, để có dáng dấp trang trọng và mang vẻ quyền quý hơn, phụ nữ nơi thành thị đã biến tấu kiểu áo ngũ thân từ chiếc áo dài tứ thân nhằm thể hiện sự giàu sang cũng như địa vị xã hội của người phụ nữ. Giống như một quy luật, trang phục cũng đi liền với diễn biến của lịch sử, chiếc áo dài ngũ thân vẫn không thể là điểm dừng của trang phục truyền thống Việt Nam.

Áo dài tứ thân.

.

Trong sách "Relation de la Nouvelle Mission des Péres de la Compagnie de Jesus au Royaume de la Cochinchine", xuất bản tại Lille năm 1631, giáo sĩ Borri đã tả rõ về cách ăn mặc của người Việt ở đầu thế kỷ 17: "Người ta mặc năm sáu cái áo dài, áo nọ phủ lên áo kia, mỗi cái một màu... Phần dưới thắt lưng của mấy lớp áo ngoài được cắt thành những dải dài. Khi đi lại, các dải này quyện vào nhau trông đẹp mắt…”

Có lẽ giáo sĩ Borri đã hiểu lầm về số lớp áo được người Việt xưa mặc mỗi khi ra ngoài. Thật ra mấy lớp áo bên ngoài bị cắt thành các dải dài bên dưới thắt lưng mà giáo sĩ Borri nhắc đến chỉ là cái xiêm cánh sen, hoặc có nơi gọi là quầy bơi chèo, mà người xưa mặc trước ngực hay dưới thắt lưng bên ngoài áo dài. Xiêm này có ba hoặc bốn lớp dải lụa may chồng lên nhau. Lớp dải trong cùng dài nhất, rồi các lớp bên ngoài ngắn dần. Bức tượng Ngọc Nữ tạc từ thế kỷ 17 ở chùa Dâu, Bắc Ninh, là minh chứng rõ nhất cho cả áo dài, các giải cánh sen, lẫn cách vấn khăn mà giáo sĩ Borri đã mục diện từ bốn thế kỷ trước đây.

Tượng Ngọc Nữ (thế kỷ 17)

Năm 1819, cách ăn mặc của người dân vẫn giống như giáo sĩ Borri đã thấy ở Thuận Quảng từ hơn hai thế kỷ trước đó với quần lụa đen và áo may sát người dài đến mắt cá chân.

Cho đến đầu thế kỷ 20, phần đông áo dài phụ nữ thành thị đều may theo thể năm thân, hay năm tà. Mỗi thân áo trước và sau đều có hai tà, khâu lại với nhau dọc theo sống áo. Thêm vào đó là tà thứ năm ở bên phải, trong thân trước. Tay áo may nối phía dưới khuỷu tay vì các loại vải ngày xưa chỉ dệt được rộng nhất là 40cm. Cổ, tay và thân trên áo thường ôm sát người, rồi tà áo may rộng ra từ sườn đến gấu và không chít eo. Gấu áo may võng, vạt rất rộng, trung bình là 80cm. Cổ áo chỉ cao khoảng 2 - 3cm.

Riêng ở miền Bắc khoảng năm 1910 - 1920, phụ nữ thích may thêm một cái khuyết phụ độ 3cm bên phải cổ áo, và cài khuy cổ lệch ra đấy. Cổ áo như thế sẽ hở ra cho quyến rũ hơn và cũng để diện chuỗi hột trang sức nhiều vòng.

Phần nhiều áo dài ngày xưa đều may kép, tức là may có lớp lót. Lớp áo trong cùng thấm mồ hôi, vì thế được may đơn bằng vải mầu trắng để không sợ bị thôi mầu, dễ giặt. Một áo kép mặc kèm với một áo lót đơn ở trong đã thành một bộ áo mớ ba. Quần may rộng vừa phải, với đũng thấp. Thuở đó, phần đông phụ nữ từ Nam ra Bắc đều mặc quần đen với áo dài, trong khi phụ nữ Huế lại chuộng quần trắng. Đặc biệt là giới thượng lưu ở Huế hay mặc loại quần chít ba, nghĩa là dọc hai bên mép ngoài quần được may với ba lần gấp, để khi đi lại quần sẽ xòe rộng thêm.

Trong các thập niên 1930 và 1940, cách may áo dài vẫn không thay đổi nhiều, gấu áo dài thường được may trên mắt cá khoảng 20cm, thường được mặc với quần trắng hoặc đen.

Những cách tân đầu tiên

Một vài nhà tạo mẫu áo dài bắt đầu xuất hiện trong giai đoạn này, nhưng gần như họ chỉ bỏ được phần nối giữa sống áo, vì vải phương Tây dệt được khổ rộng hơn. Tay áo vẫn may nối. Nổi nhất lúc ấy là nhà may Cát Tường ở phố Hàng Da, Hà Nội. Năm 1939 nhà tạo mẫu này tung ra một kiểu áo dài được ông Âu hóa. Áo Le Mur vẫn giữ nguyên phần áo dài may không nối sống bên dưới. Nhưng cổ áo khoét hình trái tim. Có khi áo được gắn thêm cổ bẻ và một cái nơ ở trước cổ. Vai áo may bồng, tay nối ở vai. Khuy áo may dọc trên vai và sườn bên phải. Nhưng kiểu áo này chỉ tồn tại đến khoảng năm 1943.

Thiếu nữ Hà Nội xưa với áo dài Lemur
.

Đến khoảng năm 1950, sườn áo dài bắt đầu được may có eo. Các thợ may lúc đó đã khôn khéo cắt áo lượn theo thân người. Thân áo sau rộng hơn thân áo trước, để áo ôm theo thân dáng mà không cần chít eo. Vạt áo cắt hẹp hơn. Thân áo trong được cắt ngắn dần từ giai đoạn này. Cổ áo bắt đầu cao lên, trong khi gấu được hạ thấp xuống.

Áo dài được thay đổi nhiều nhất trong thập kỷ 60, áo dài bắt đầu được may chít eo, eo áo cắt cao lên. Gấu áo lúc này cắt thẳng ngang và may dài gần đến mắt cá chân. Nhiều người sau đó còn may áo dài với cổ khoét tròn. Đến gần cuối thập kỷ 60, áo dài mini trở thành thời thượng. Vạt áo may hẹp và ngắn, có khi đến đầu gối, áo may rộng hơn, không chít eo nữa, nhưng vẫn giữ đường lượn theo thân thể. Cổ áo thấp xuống còn 3cm. Tay áo cũng được may rộng ra. Đặc biệt trong khoảng thời gian này, vai áo dài bắt đầu được cắt lối raglan để ngực và tay áo ôm hơn, nhăn ít, mà lại đỡ tốn vải. Tay áo được nối với thân từ chéo vai. Quần may rất dài với gấu rộng đến 60cm và nhiều khi được lót hai ba lớp. Đến những năm 90, áo dài đã trở lại, cầu kỳ hơn, thanh nhã hơn và bắt đầu được bạn bè Quốc Tế nghĩ tới như là một biểu tượng của người phụ nữ Việt Nam.

(Doremon360 tổng hợp từ bài viết của tác giả Thùy Mai và Dung Nguyen design, bổ sung thêm tư liệu và hình ảnh sưu tầm)

.

Phục lục : Một vài hình ảnh áo dài Việt Nam xưa và nay:

Thứ Năm, 16 tháng 7, 2009

Danh sách lớp 12A trường PTTH A Thanh liêm - Năm học 1993 - 1996

DANH SÁCH LỚP 12A TRƯỜNG PTTH A THANH LIÊM
NĂM HỌC 1993-1996

STT HỌ VÀ TÊN Sinh nhật SỐ ĐIỆN THOẠI
Cơ quan Nhà riêng Cầm tay
1 Nguyễn Tuấn Anh 13/1
2 Hoàng Thanh Bình 15/1 0988776040 0912794302
3 Hoàng Ngọc Bình 18/10 04.5634472 04.6613139 0915380278
4 Lại Mạnh Cường 28/5 0351.8541562 0988122574
5 Đỗ Việt Cường 29/6 0989646096
6 Cao Thị Én 4/2 04.6240772 04.8573242 0912478856
7 Dương Thanh Hương 13/12
8 Nguyễn Huy Hùng 13/5
9 Đỗ Văn Hùng 28/12
10 Phạm Duy Hiển 23/1 0914171591
11 Nguyễn Văn Hiếu 14/5
12 Nguyễn Quang Hợp 22/12 0989375777
13 Trịnh Công Hoan 6/2 0989547486
14 Trần Kim Huệ 15/3
15 Trịnh Quang Huy 21/8 0953320022
16 Phạm Công Lĩnh 15/5 0915590442
17 Đinh Văn Minh 16/9 0904172307
18 Lại Xuân Ngọc 30/11 04.5531406 04.6642527 0909301178
19 Trần Kim Oanh 12/2
20 Thiệu Thị Quế 27/3
21 Lê Minh Quế 12/9 913.54745
22 Nguyễn Văn Quy 5/11 20.876215 0983876617
23 Lê Hải Sơn 2/7 351.85442 0983450710
24 Nguyễn Hồng Sơn 13/9
25 Lại Hồng Sơn 20/9 098867625
26 Nguyễn Anh Sơn 18/10 0351.880613 0983546949
27 Lê Trung Thành 5/5
28 Đỗ Văn Thành 12/2
29 Trần Văn Thành A 20/2 069.554966 0983590525
30 Trần Văn Thành B 13/9
31 Lê Hồng Thắm 6/1 0351.887085
32 Hoàng Đức Thắng 15/9 0912440031
33 Đỗ Trường Thọ 20/1 0904170571
34 Lại Hữu Thọ 26/10 4.8697638 0989134178
35 Trần Thị Thanh 2/9
36 Nguyễn Trung Thứ 20/9 04.8540367 0989096525
37 Phạm Văn Thoại 31/10 084312907746
38 Nguyễn Trí Thức 27/2
39 Nguyễn Văn Thịnh 3/11 03513.830.085 0351.550.921 0987.506.427
40 Trần Minh Thịnh 8/12
41 Trịnh Quỳnh Thu 6/9 04.8647866 0351.887008 0983034450
42 Trần Bích Thuỳ 31/3 0351.887957
43 Vũ Biên Thuỳ 30/12 033.846738 033.826203 0904445768
44 Nguyễn Thị Thuỷ 16/3
45 Phạm Xuân Thuỷ 9/2 04.7842942
46 Nguyễn Thị Thuý 16/3 0989749374
47 Trịnh Minh Tiến 2/7 4.886614 0950093477
48 Lê Thanh Tú 2/8
49 Hà Thu Trang 27/10 04.8359011 045637016 0983048386
50 Đỗ Văn Trực 17/3 0912538814
51 Nguyễn Quốc Trung 5/3
52 Nguyễn Thị Tuyết 25/9
53 Trương Quang Việt 17/8

Thứ Tư, 15 tháng 7, 2009

XIN CHÀO CÁC BẠN


Hôm nay, vào hồi 23h20 ngày 15/7/2009 tôi đã lập được blog cho mình. Tôi rất mong được giao lưu và chia sẻ cùng các bạn.